XEM AI BIỂU DIỄN

Bây giờ là mấy giờ?

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh mới nhất

    BiasachNamOngMongLuc.png Film_6_The_gioi_tu_nhien.flv Uoc_mo_cua_Rachel_PhotographersMicrosoft_2009.jpg 270.jpg New_folder2.swf Lon_cuoi_ao_moi.flv 21_nam_kham_chua_benh_mien_phi_cho_nguoi_ngheo.flv Vi_o_men_thuong.swf Nem_bom_truong_son.flv Pho_gioi_thieu_bai_liet_ke.flv Chi_Dau_va_cai_Ty.flv Bai_hat_tieng_viet.flv Robinxon_tro_ve.flv Cuoc_song_cua_Robinxon.flv Hoan_canh_lac_vao_hoang_dao_cua_Robinxon.flv Kim_loan_chuc_tet.swf CUUNON_CHUC_TET.swf Anh_cho_em_mua_xuan2.swf GIANGSINH.swf

    Ai đang thăm nhà tôi

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Thời tiết Hà Nội

    Chào mừng quý vị đến với Chia sẻ thành công - Nguyễn Lương Hùng.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Thông tin - Sự kiện > Tham khảo >

    Chuyện Màu tím hoa sim

    hoa_sim_400Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ duyên được cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người, nhờ ông mà năm 1938 - lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi - tôi chơi ngông vác lều chõng ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo tự học cũng có thể đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi chẳng có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài Pháp thời đó rất khó khăn. Số người đỗ trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5, 6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những cậu khóa ấy, trong số có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuân, Đỗ Thiện và tôi... (theo Lê Thọ Bình, báo Pháp Luật số Xuân Giáp Thân)

    Với mảnh bằng tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà Tham Kỳ chú ý, vời về nhà dạy kèm cho hai đứa con nhỏ. Tên thật của bà Tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, bà Tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt đến (theo Lê Thọ Bình, báo đã dẫn).

    Bà Tham Kỳ là một người hiền lành tốt bụng, đối xử với tôi rất đàng hoàng tử tế, coi tôi chẳng khác người nhà. Nhớ lại ngày đầu tiên khoác áo gia sư, bà gọi mãi, đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi - mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay miệng lí nhí: "Em chào thầy ạ!" Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh ở trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đó nhưng ít nói và mỗi lần mở miệng là cứ y như một "bà cụ non". Đặc biệt em chăm sóc tôi hàng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng ướt em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà đem ra giếng giặt...

    Có lần tôi kể chuyện "bà cụ non" ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em dỗi! Suốt một tuần liền, em nằm lì ở buồng trong, không chịu học hành... Một hôm bà Tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện cho em nghe; rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy, ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: "Mới ốm dậy, còn yếu lắm, không đi được đâu!" Em không chịu, nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà Tham Kỳ đưa em lên núi chơi...

    Xe kéo chạy chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc con, tôi đuổi theo muốn đứt hơi! Lên tới đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời. Không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:

    - Thầy có thích ăn sim không?

    Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên, đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ... Khi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen nhánh, chín mọng.

    - Thầy ăn đi!

    Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng và trầm trồ:

    - Ngọt quá!

    Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật chưa bao giờ tôi được ăn những quả sim ngọt đến thế!

    Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi cũng đỏ tím, hai bên má thì... tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

    Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà Tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi... Lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó, nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi... Tôi quay đầu nhìn lại... Em vẫn đứng yên đó...Tôi lại đi và nhìn lại cho tới khi không còn nhìn thấy em nữa...

    Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi có nhận được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 đã có nhiều chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ...

    Chín năm sau, tôi trở lại nhà... Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp...

    Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không "môn đăng hộ đối" một chút nào. Mãi sau mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm "soạn kịch bản".

    Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, "không đòi may áo mới trong ngày hợp hôn", bảo rằng là: "Yêu nhau, thương nhau cốt cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay lại... đẹp giai nên em thường gọi đùa là ông chồng độc đáo.

    Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

    Hai tuần phép của tôi trôi đi thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ đây em không còn là cô bé Ninh nữa mà đã là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, tôi lại quay đầu nhìn lại... Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ cảm thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

    Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lấy tấm áo bị nước cuốn đi nên trượt chân té xuống sông chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em đi vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại cho tôi nỗi đau không gì có thể bù đắp nổi! Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

    Nỗi đau ấy tôi phải giấu kín trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn... Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm tư gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong tôi được dịp bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng. Hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi, chép.

    Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:

    Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
    Những em nàng có em chưa biết nói
    Khi tóc nàng đang xanh...
    ...Tôi về không gặp nàng...

    Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại nhà một người bạn ở Thanh Hóa. Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”.

                                                                 Theo lời kể của Hữu Loan

    Và đây là bài thơ Màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu Loan


    Nàng có ba người anh đi bộ đội
    Những em nàng
    Có em chưa biết nói
    Khi tóc nàng xanh xanh

    Tôi người Vệ quốc quân
    xa gia đình
    Yêu nàng như tình yêu em gái
    Ngày hợp hôn
    nàng không đòi may áo mới

    Tôi mặc đồ quân nhân
    đôi giày đinh
    bết bùn đất hành quân
    Nàng cười xinh xinh
    bên anh chồng độc đáo
    Tôi ở đơn vị về
    Cưới nhau xong là đi
    Từ chiến khu xa
    Nhớ về ái ngại
    Lấy chồng thời chiến binh
    Mấy người đi trở lại
    Nhỡ khi mình không về
    thì thương
    người vợ chờ
    bé bỏng chiều quê...

    Nhưng không chết
    người trai khói lửa
    Mà chết
    người gái nhỏ hậu phương
    Tôi về
    không gặp nàng
    Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
    Chiếc bình hoa ngày cưới
    thành bình hương
    tàn lạnh vây quanh

    Tóc nàng xanh xanh
    ngắn chưa đầy búi
    Em ơi giây phút cuối
    không được nghe nhau nói
    không được trông nhau một lần

    Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
    áo nàng màu tím hoa sim
    Ngày xưa
    một mình đèn khuya
    bóng nhỏ
    Nàng vá cho chồng tấm áo
    ngày xưa...

    Một chiều rừng mưa
    Ba người anh trên chiến trường đông bắc
    Được tin em gái mất
    trước tin em lấy chồng
    Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
    Đứa em nhỏ lớn lên
    Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
    Khi gió sớm thu về
    cỏ vàng chân mộ chí

    Chiều hành quân
    Qua những đồi hoa sim
    Những đồi hoa sim
    những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
    Màu tím hoa sim
    tím chiều hoang biền biệt
    Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
    Áo anh sứt chỉ đường tà
    Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
    Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
    Chiều hoang tím có chiều hoang biết
    Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
    Nhìn áo rách vai
    Tôi hát trong màu hoa
    Áo anh sứt chỉ đường tà
    Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...
    Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
    Tím tình ơi lệ ứa
    Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
    Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
    Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
    Tôi ví vọng về đâu
    Tôi với vọng về đâu
    Áo anh nát chỉ dù lâu...


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Lương Hùng @ 17:36 15/10/2008
    Số lượt xem: 3568
    Số lượt thích: 0 người
    No_avatar
    Câu chuyện buồn quá!
    No_avatar
    Bài thơ này tôi đọc nhiều rồi nhưng chuyện thì lần đầu tiên đọc đấy! Cám ơn Lương Hùng!
    Avatar
    câu chuyện buồn quá thầy ạ.
    Avatar
    Bài này đã được phổ nhạc, rất là hay! phổ ra nhiều bản khác nhau, mỗi ca sĩ trình bày bài hát này đều có một cách thể hiện khạc nhau nhưng vẫn giữ được cái hồn của bài.
    Avatar
    Chiến tranh đã đi qua, quá khứ đã lùi vào dĩ vãng. Thế nhưng cái quá khứ ấy vẫn có những cái không lùi vào dĩ vãng, mà mỗi lần nhắc đến nó, chúng ta càng hiểu ở cuộc đời này có biết bao người phải chịu đựng sự hi sinh mất mát quá lớn. Bài thơ tôi đã được học ở chương trình phổ thông, Nay mới có dịp được chia sẽ nỗi niềm cùng nhà thơ Hữu Loan.
    Avatar
    Bài này buồn quá các thầy cô nhỉ?
    No_avatar
    câu chuyện thật cảm động
    Avatar
    Đã nghe nhạc và đọc thơ rồi nhưng đây là lần đầu tiên tôi biết về câu chuyện. Cảm động đến cùng...
     
    Gửi ý kiến